Cocker Spaniel là giống chó săn chuyên nghiệp nhưng đồng thời nó cũng
được mọi người yêu thích và nuôi trong nhà vì tính cách vui vẻ của nó.
Nguồn
gốc
Có tổ tiên bắt nguồn từ Tây Ban Nha nhưng lần đầu
tiên được chú ý tại xứ Galles.
Từ thế kỷ XIV, nó đã là mục tiêu
của mọi lời ca ngơi vì tính “nhân bản “ của nó hơn là năng khiếu của nó
trong săn bắt. Vào thế kỷ XVIII, giống chó này đã cho ra đời hai dòng
con của nó: Springing Spaniel và Cocking Spaniel. Hai dòng chó này cũng
là những tay săn thực thụ. Những bá tước vùng Malborough rất thích nuôi
giống chó này để phục vụ cho việc đi săn nên nó còn được mọi người biết
đến với tên gọi là Cocker Malborough. Ngoài ra, giống chó này còn mang
thêm dòng máu giống chó lùn, lông xù Blenheim của Anh. Mặc dù con Cocker
Spaniel xuất hiện từ rất sớm nhưng mãi đến thế kỷ XIX mới bắt đầu được
công nhận là một giống chó mang những đặc tính riêng xác định. Đến cuối
thế kỷ này, nó xuất hiện ở Pháp và trở thành con chó “thời thượng “. Sự
phổ biến của nó vượt xa các giống chó cảnh khác bấy giờ như là chó lông
xù Breton và sự phổ biến của nó vượt xa ra khỏi vùng biển Manche và Địa
Trung Hải.
Đặc tính
Có tính cách vui vẻ, nhiệt tình và rất
linh hoạt, vì vậy, nó thường được ví như một đứa trẻ. Nếu bạn muốn nuôi
một chú chó Cocker thì tuổi nuôi thích hợp nhất là khoảng hai tháng
tuổi. Vì là giống chó săn nên nó rất nhạy bén trong việc đánh hơi. Vì
vậy, nó đã được sử dụng làm chó nghiệp vụ giúp cho việc tìm kiếm hàng
cấm, ma túy, chất nổ tại khắp các sân bay trên thế giới.

Tổng quan (hình thái bên ngoài)
Đầu:
Tương đối hơi kéo dài và phân biệt rõ từng phần, trán rộng, sọ rộng và
hơi gồ lên ở phía cuối. Phần xương nơi bên hai chân mày gồ lên tạo thành
một đường rõ nét. Đường cong giữa trán và mũi rõ rệt, sống mũi thẳng,
chắc, rộng, chóp mũi màu đen. Mõm nghiệng từ từ ra phía mũi, không tạo
điểm gảy và không nhọn, mắt to nhưn gkhông lồi, màu nâu hạt dẻ hoặc đậm
hơn (một con Cocker rặt giống thì màu mắt không được quá sáng). Tai rộng
phủ đầu và kéo dài từ trên mắt xuống dưới cổ. Khi kéo tai ra phía trước
đầu thì vành tai không vượt quá chóp mũi, trên tai phủ đầy lông dài và
mềm nhưng không tạo thành lọn. Lổ tai là nơi dễ bị viêm nhất, vì vậy,
cần chú ý vệ sinh thường xuyên. Cổ dài, hơi cong và có nhiều cơ bắp.
Thân: Lưng ngắn, hông mạnh và đầy cơ
bắp, mông to tròn. Khi đứng thẳng thì tòan thân xuôi về phía đuôi. Lồng
ngực rộng lớn và sâu xuống tận cùi chỏ. Khung sườn cân đối. Đuôi ngắn
thấp xuống phía dưới cuối đường lưng, chiếm 2/5 chiều dài cơ thể, đuôi
càng thấp càng đẹp. Ngày nay, do theo mỹ quan của đa số người nên từ khi
được 2 –3 ngày tuổi, người ta sẽ cắt đuôi cho chúng, chỉ chừa lại 1 –2
đốt.
Chân: Chân trước thẳng, mạnh mẽ,
hơi ngắn, vai dài, hơi cong. Chân sau khỏe, có nhịều cơ bắp giúp chó có
sức bật, khoeo chân dài, bàn chân to.
Lông: Dài và không gợn sóng, nằm sát nhau. Tuy
lông dài và dày, nhưng nó vẫn thích nghi được ở những vùng có khí hậu
nhiệt đới như nước ta. Màu sắc của lông rất đa dạng , màu đơn thường có
các màu như: đen, hung vàng,kem. Những màu này không lẫn một vết trắng
nào, ngọai trừ vết trắng ở trước ngực. Màu da: đen nâu, đen hung trắng.
Màu trên lưng thường đậm hơn ở hai bên hông, trên đầu và bốn chân.
Kích
thước: thể trọng 12 – 13 kg.
Con đực: cao từ 38 – 41
cm. Con cái: cao từ 37 – 40 cm.
Ngoài giống Cocker Spaniel còn có giống Cocker American. Nhìn chung, hai
giống này mang cùng một dòng máu, nhưng do chúng phân bố ở các vùng địa
lý khác nhau nên chúng cũng mang một vài đặc tính khác nhau, tùy theo
sự thích nghi với điều kiện ngoại cảnh. Ví dụ như về kích thước, Cocker
American nhỏ hơn Cocker Spaniel (con đực cao tối đa 38 cm, con cái cao
tối đa 35,6 cm). Về hình dáng thì lông Cocker American ngắn hơn, thẳng
hơn ở đầu và thân nhưng cong ở bụng, ngực, chân. Những nhà chuyên môn đã
đánh giá giống chó này là giống chó thuần nhất trong các giống Cocker.
Đặc biệt, giống chó này rất thích hợp để làm bạn cùng trẻ em. Cocker rất
hiền, vui nhộn và dịu dàng.
(Theo Tạp chí Người Nuôi Chó)